Bình Phước là tỉnh biên giới thuộc miền Đông Nam Bộ, được tái lập từ năm 1997 sau khi tách ra từ tỉnh Sông Bé (cũ). Hơn 20 năm qua kể từ ngày tái lập, tỉnh Bình Phước đã có nhiều nỗ lực phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, tạo nên những chuyển biến quan trọng đánh dấu bước phát triển rõ nét trong tiến trình lịch sử lâu dài của địa phương.

I. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Phước

1. Vị trí địa lý

Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây cũng là tỉnh có diện tích lớn nhất miền nam. Tỉnh lỵ của Bình Phước hiện nay là thành phố Đồng Xoài, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 121km theo đường Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 và 102 km theo đường Tỉnh lộ 741.

Bình Phước là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 240km đường biên giới với Vương quốc Campuchia trong đó 3 tỉnh biên giới gồm Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia.

  • Phía đông giáp các tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai
  • Phía tây giáp Campuchia và tỉnh Tây Ninh
  • Phía nam giáp tỉnh Bình Dương
  • Phía bắc giáp Campuchia và tỉnh Đắk Nông.
Vị trí của tỉnh Bình Phước trên bản đồ Việt Nam
Vị trí của tỉnh Bình Phước trên bản đồ Việt Nam

Nguồn: Wikipedia

2. Khí hậu

Bình Phước nằm trong khu vực có nền nhiệt độ cao đều quanh năm. Nhiệt độ trung bình hằng năm của các khu vực trong tỉnh là 23,0- 26,3°C , nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 4) tại Đồng Xoài là 28,3°C , tại Phước Long là 27,6°C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng 12) tại Đồng Xoài là 24,6°C , tại Phước Long là 23,9°C . Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 3,7°C .

Nhiệt độ trung bình tháng biến đổi so với nhiệt độ trung bình cùng kỳ nhiều năm từ -1,7 đến +2,1°C . Các cực trị nhiệt độ lên xuống khá cao, tại Đồng Xoài nhiệt độ tối cao (Tx) lên đến 40,6°C và nhiệt độ tối thấp (Tn) xuống đến 11,9°C ; tuy nhiên tần suất xuất hiện thấp 30-40 năm/1 lần.

Nhìn chung, khí hậu Bình Phước thể hiện tính chất nhiệt đới cận xích đạo gió mùa với nền nhiệt độ cao và phân phối khá đều trong năm. Lượng mưa khá lớn (trung bình 2.150mm) và phân bố theo mùa rõ rệt.

3. Đặc điểm địa hình

Tỉnh Bình Phước là tỉnh miền núi trung du nằm về phía tây của vùng Đông Nam Bộ, tiếp từ bậc thềm phù sa cổ đến đồi núi thấp dạng vòm phủ bazan và đến núi trung bình thấp dạng dải kéo dài của các trầm tích lục nguyên và phun trào bazan khe nứt với độ cao thay đổi từ khoảng 30m đến 500m (cá biệt có một số khu vực có độ cao 723m tại núi Bà Rá và phần phía đông bắc tỉnh), tiếp giáp các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh và Đắk Nông.

Địa hình có dạng đồi thấp thoải lượn sóng nối liền với nhau tạo thành dạng địa hình yên ngựa, nhiều nơi dạng địa hình bát úp, ít bị đứt gãy sâu và thấp thoải dần về phía tây và tây nam. Với vị trí chuyển tiếp từ miền núi và cao nguyên xuống đồng bằng, Bình Phước là địa hình trung du, có nhiều đồi núi thấp.

Bản đồ địa hình - hệ thống sông, hồ tỉnh Bình Phước
Bản đồ địa hình – hệ thống sông, hồ tỉnh Bình Phước

Về phía đông bắc tỉnh có các dải núi cao kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam. Ngoài ra, cũng về phía đông bắc có độ dốc phổ biến <15o, chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên. Chịu ảnh hưởng của vận động kiến tạo nâng lên và uốn nếp ở phía đông bắc và sụt lún ở phía tây nam, nên tỉnh có dạng địa hình thoải, lượn sóng, nghiêng theo hướng đông bắc – tây nam. Tuy tỉnh Bình Phước có độ cao địa hình trung bình từ 200 – 300m, nhưng riêng ở phía đông bắc, phần giáp cao nguyên Mnông và núi Sát (tỉnh Đắk Nông), có dạng địa hình cao nguyên thấp, độ cao trên 300m.

Về phía tây nam, địa hình chuyển xuống vùng đồi và độ cao giảm dần, độ cao trung bình trên 100m so với mực nước biển (ở thị xã Bình Long, huyện Hớn Quản, huyện Chơn Thành và thành phố Đồng Xoài). Xen trong các dạng địa hình chính vừa nêu là những thung lũng nhỏ hẹp kéo dài ven hợp thủy và một số đồi núi cao dốc, vượt trội lên như núi Bà Rá (723m), núi Nam Đô (289m) và Núi Gió (169m).

Độ chia cắt của địa hình dao động từ 70 – 80m, địa hình phần phía bắc và đông (thuộc các huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng và thị xã Phước Long) bị chia cắt khá mạnh do có đỉnh núi cao và lại có những dòng suối chảy sâu, dốc lớn, nước chảy xiết đã xâm thực làm cho những vết nứt ngày càng mở rộng và sâu hơn, hình thành nhiều thung lũng sâu, làm cho giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, có nơi bề mặt địa hình khá cao và bằng phẳng như một bán bình nguyên thu nhỏ (ở huyện Bù Đốp, Bù Đăng và thị xã Phước Long). Phía tây và phía nam thoải dần, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 100 – 200m. Khu vực này tập trung khá nhiều đồi thấp, xen các thung lũng rộng và nông rất thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp. Tại khu vực thành phố Đồng Xoài, địa hình hơi giống một lòng chảo có xu hướng trũng dần vào giữa. Thành phố Đồng Xoài có lúc thời tiết nóng, nhiệt độ cao vào bậc nhất cả nước.

4. Dân số

Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2018 ước tình là 979.570 người, tăng 1,1% so với năm 2017. Mật độ dân số là khoảng 140 người/ km², trong đó dân thành thị là 215.174 người, chiếm 21,97% dân số của cả tỉnh, dân nông thôn là 764.396 người, chiếm 78,03% dân số của cả tỉnh. Dân số nam là 491.853 người, nữ là 487.717 người.

Toàn tỉnh Bình Phước hiện có 41 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 1 thành phần dân tộc nước ngoài. Về cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc (số liệu năm 2009): Dân tộc Kinh chiếm 80,28%, dân tộc thiểu số chiếm 19,72%, trong đó các dân tộc bản địa như Xtiêng (chiếm 9,35%), Mnông (0,98%), Khmer (1,78%), ngoài ra còn có một số thành phần dân tộc khác từ các tỉnh di dân đến sinh sống làm ăn trên địa bàn như dân tộc Tày (chiếm 2,66%).

Tỷ lệ dân số các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính tỉnh Bình Phước năm 2009 - Đơn vị tính: %
Tỷ lệ dân số các thành phần dân tộc và đơn vị hành chính tỉnh Bình Phước năm 2009 – Đơn vị tính: %

Các tôn giáo lớn của nước ta đều có ở tỉnh Bình Phước như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, ngoài ra còn có Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo và các tôn giáo khác. Tổng số người theo đạo toàn tỉnh là 229.585 người, tăng 15,36% so với số liệu của tổng điều tra dân số ngày 1-4-1999.

Số người theo đạo (số liệu năm 2009) chiếm 26,28% dân số, chia theo từng tôn giáo như sau: Phật giáo 85.841 người (9,83%), Công giáo 87.659 người (10,03%), Tin Lành 52.096 người (5,96%), Cao Đài 3.092 người (0,35%), Phật giáo Hòa Hảo 345 người (0,04%), Hồi giáo 481 người (0,06%) và các tôn giáo khác 71 người (0,01%).

Hai tôn giáo lớn ở tỉnh là Phật giáo và Công giáo được phân bố đều ở các huyện, thị. Đạo Tin Lành tập trung ở huyện Phước Long, Bình Long, Bù Đăng; Đạo Cao Đài tập trung ở huyện Bình Long, Phước Long và Lộc Ninh.

5. Tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên đất

Nằm ở rìa kiến tạo của Trường Sơn Nam, nơi tiếp tục cao nguyên Di Linh, Mnông và chịu sự tác động mạnh mẽ của phù sa cổ sông Đồng Nai và Sài Gòn, Bình Phước là một trong những tỉnh có chất lượng đất khá tốt, rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm như: cao su, cà phê, ca cao, điều, tiêu và các loại cây ăn trái. Sự đa dạng của thổ nhưỡng với độ phì và chất lượng của đất được sử dụng cho phát triển nông, lâm nghiệp khác nhau.

Bản đồ phân bố đất tỉnh Bình Phước
Bản đồ phân bố đất tỉnh Bình Phước – tải file gốc tại đây

Tỉnh Bình Phước có tổng diện tích tự nhiên là 6.855,99 km², có 7 nhóm đất chính với 13 loại đất. Theo phân loại, đất chất lượng cao trở lên có 420.213 ha, chiếm 61,17% tổng diện tích đất tự nhiên, đất có chất lượng trung bình là 252.066 ha, chiếm 36,78% diện tích đất tự nhiên và đất có chất lượng kém, hoặc cần đầu tư chỉ có 7.884 ha, chiếm 1,15% tổng diện tích đất lâm nghiệp. 

  1. Nhóm đất phù xa – diện tích 832ha
  2. Nhóm đất xám – diện tích 90.742ha
  3. Nhóm đát đen – diện tích 1.766ha
  4. Nhóm đất đỏ vàng – diện tích 551.157ha
  5. Nhóm đất dốc tụ – diện tích 20.580ha
  6. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá – diện tích 273ha
  7. Nhóm đất khác – diện tích 21.803ha

b) Tài nguyên rừng

Bình Phước vốn là tỉnh có quỹ rừng lớn, đa dạng về loài và nó có giá trị phòng hộ, môi trường cho cả vùng Đông Nam Bộ, nhưng đã bị khai thác làm cho cạn kiệt. Thảm thực vật rừng không còn nhiều (26,04% DTTN), nhưng được bổ sung bằng thảm thực vật cây trồng lâu năm (62% DTTN), góp phần đáng kể mức độ che phủ của thảm thực vật, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc chống rửa trôi, xói mòn, duy trì độ ẩm đất.

Năm 2002, toàn tỉnh Bình Phước có 127,863ha rừng tự nhiên (chiếm 18,65% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh) thì đến năm 2011, diện tích rừng tự nhiên giảm còn 62,805ha.

Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh Bình Phước giảm mạnh trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011. Đây là giai đoạn mà Chính phủ cho phép chuyển đổi các diện tích rừng nghèo sang phát triển cây cao su. Tổng diện tích rừng đã chuyển đổi trong 4 năm nói trên là khoảng 43.000ha rừng.

Mặc dù diện tích rừng bị thu hẹp, có sự suy giảm lớn về số lượng cũng như trữ lượng tài nguyên động, thực vật, nhưng các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, diện tích rừng Bình Phước vẫn thuộc loại lớn tại khu vực Đông Nam Bộ. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước hiện có Vườn quốc gia Bù Gia Mập có sự đa dạng sinh học rất cao.

Ngoài ra, các khu vực như Tây Cát Tiên thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên, các khu rừng đặc dụng lịch sử, rừng phòng hộ và rừng sản xuất chứa đựng nguồn gen phong phú về số lượng, thành phần loài động thực vật, đặc biệt là thành phần loài động thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và danh mục đỏ các loài bị đe dọa trên thế giới khá phong phú.

TênDiện tích (ha)Số lôTổng trữ lượng (m3)Trữ lượng (m3/ha)
Trong ranh giới quy hoạch 3LR173.20724.69110.997.78863
Ngoài ranh giới quy hoạch 3LR136615688.31365
Tình trạng trước khi thay đổi quy hoạch

71400

Tình trạng quy hoạch rừng tỉnh Bình Phước năm 2017 – Nguồn: Cục Kiểm lâm Việt Nam

c) Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản ở Bình Phước tương đối phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình, nguồn gốc. Trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã phát hiện được 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hóa với 20 loại khoáng sản thuộc 4 nhóm: vật liệu xây dựng, kim loại, phi kim loại và nhóm nguyên liệu.

Trong đó nguyên vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzơlan) kaolin, đá vôi… là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh. Tài nguyên khoáng sản được phân bố rải rác chủ yếu vùng phía tây và một ít ở trung tâm (Theo báo cáo điều tra tài nguyên khoáng sản tỉnh Bình Phước do Liên đoàn địa chất bản đồ miền Nam thực hiện năm 2000).

Bản đồ tài nguyên khoáng sản tỉnh Bình Phước
Bản đồ tài nguyên khoáng sản tỉnh Bình Phước – Nguồn: Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Bình Phước

d) Tài nguyên nước

Là một tỉnh nằm ở phía bắc của vùng Đông Nam Bộ, Bình Phước có địa hình khá cao, là nơi bắt nguồn của nhiều sông, suối chảy trong vùng. Mạng lưới sông, suối khá dày với mật độ từ 0,7 – 0,8 km/km2 diện tích mặt đất tự nhiên. Huyện, thị nào trong tỉnh cũng có sông, suối. Nhưng tập trung với mật độ dày hơn là ở phía bắc và đông bắc như: huyện Bù Gia Mập, huyện Bù Đăng và thị xã Phước Long.

Bình Phước có nhiều hồ, bàu và đầm. Hầu hết các hồ tự nhiên đều có diện tích nhỏ, một số hồ nhân tạo phục vụ cho các công trình thủy điện hoặc lấy nước sản xuất và sinh hoạt có diện tích khá lớn là hồ Thác Mơ, hồ Sóc Miêng, hồ Cần Đơn, hồ Phước Hòa. Phía bắc, ở các huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng, địa hình cao, có nhiều sông, suối nên có nhiều hồ nhân tạo. Phía nam, ở các huyện: Chơn Thành, Đồng Phú và thành phố Đồng Xoài địa hình thấp hơn, có nhiều bàu, đầm.

Tỉnh Bình Phước có nguồn nước ngầm phong phú: tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh khai thác đến nay chưa được nhiều. Ngoài công trình thủy điện Thác Mơ, công trình thủy điện Cần Đơn và Sork Phu Miêng được xây dựng, hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn mới chỉ bảo đảm tưới được cho một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp và một số công trình hồ đập chứa nước phục vụ sinh hoạt cho dân cư. Riêng việc khai thác nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất và sinh hoạt của dân cư còn rất ít.

Theo kết quả nghiên cứu của Liên đoàn Địa chất Thủy văn – Địa chất Công trình miền Nam năm 2005, Bình Phước là khu vực có chất lượng nước ngầm khá tốt, nước nhạt đến siêu nhạt, tổng lượng cặn nhỏ, không có tính sủi bọt, thành phần hóa học ổn định, nhìn chung các chỉ tiêu hóa lý đều đạt các tiêu chuẩn cho ăn uống. Tuy nhiên, lưu lượng nước, độ sâu xuất hiện và chiều dày tầng chứa nước không ổn định.

CÒN TIẾP…

II. Danh lam thắng cảnh của tỉnh Bình Phước

1. Danh lam thắng cảnh

a) Du lịch văn hóa – lịch sử

Khu Di tích Phú Riềng Đỏ

Khu du lịch núi Bà Rá – Thác Mơ

Sóc Bom Bo

b) Du lịch sinh thái

Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Hồ Suối Lam

Thác Số 4

Khu du lịch Sóc Xiêm

Trảng cỏ Bàu Lạch

2. Lễ hội truyền thống

Lễ hội Miếu Bà Rá Phước Long

Lễ cầu mưa của người Stiêng Bù Lơ

3. Đặc sản – Sản phẩm nổi tiếng

Bánh hạt điều

Khổ qua rừng

III. Đơn vị hành chính của tỉnh Bình Phước

1. Bản đồ hành chính

2. Các đơn vị hành chính

IV. Kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Phước

1. Phát triển kinh tế

2. Văn hóa – xã hội